Giới thiệu khoa

GIỚI THIỆU KHOA

Chẩn đoán hình ảnh (Diagnostic Imaging) hay Điện quang (Radiology) là chuyên ngành Hình ảnh học y khoa (Medical Imaging) ứng dụng các kỹ thuật hình ảnh X quang (X ray), Siêu âm (Ultrasound), Chụp cắt lớp vi tính (CT), Cộng hưởng từ (MRI) để thăm khám chi tiết các cấu trúc hình thái và đánh giá một số chức năng hoạt động của cơ quan, tạng bên trong cơ thể con người nhằm phát hiện những thay đổi liên quan đến bệnh tật.

Chẩn đoán hình ảnh ngày nay góp phần quan trọng, không thể thiếu được trong tất cả các lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, từ tầm soát, phát hiện bệnh giai đoạn sớm đến đánh giá giai đoạn bệnh, theo dõi diễn tiến, tiên lượng bệnh và ngày càng có vai trò to lớn trong điều trị bệnh bằng các thủ thuật can thiệp, ít xâm lấn, an toàn, nhanh chóng, hiệu quả cao.

Cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, các phương tiện kỹ thuật hình ảnh đã liên tục cải tiến từ cấu tạo thiết bị máy móc đến các phần mềm hỗ trợ, tích hợp trí tuệ nhân tạo,… đã không ngừng nâng cao độ chính xác, an toàn trong chẩn đoán và can thiệp điều trị cho người bệnh.     

Nếu như các bước thăm khám lâm sàng chỉ giúp bác sĩ quan sát và phán đoán triệu chứng thông qua biểu hiện bên ngoài thì việc kết hợp các thông tin chẩn đoán hình ảnh đã giúp nhận diện bệnh chính xác, nhanh chóng hơn nhiều. Điều này giúp ích rất nhiều cho việc chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị. Bên cạnh đó, đội ngũ nhân sự tại khoa vẫn luôn không ngừng học tập, nghiên cứu mỗi ngày nhằm trau dồi chuyên môn và kỹ năng trong từng thao tác thực hiện.

Hình thành từ những ngày sơ khai của Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM vào năm 1994, đến nay Khoa Chẩn đoán hình ảnh tuy cơ sở không rộng rãi nhưng với sự sắp xếp khoa học, Khoa có khả năng tiếp nhận thăm khám 5.000 đến hơn 6.000 lượt người bệnh mỗi ngày. Với mong muốn tối ưu hóa trải nghiệm của người bệnh, Khoa Chẩn đoán hình ảnh cung cấp nhiều giải pháp nhận kết quả thông qua tin nhắn, email hoặc giấy báo trực tiếp. Đặc biệt, các dữ liệu về hình ảnh X-quang, Siêu âm, CT, MRI của người bệnh nội viện hoặc ngoại viện (nơi Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM hợp tác) đều được lưu trữ trên hệ thống PACS hiện đại để dễ dàng tra cứu, so sánh diễn tiến tổn thương, giúp đưa ra chẩn đoán cụ thể hơn.

Thế mạnh chuyên môn 

Về siêu âm: 

– Thực hiện hầu hết các loại siêu âm như siêu âm tổng quát, siêu âm Doppler mạch máu, siêu âm sản phụ khoa, siêu âm phần mềm, siêu âm cơ xương khớp,…

– Thực hiện các siêu âm chuyên sâu như: Siêu âm trong phẫu thuật, siêu âm tuyến tiền liệt qua ngã trực tràng, đặc biệt là siêu âm nội soi hậu môn trực tràng. Khoa là nơi đầu tiên trong nước đưa kỹ thuật này vào chẩn đoán các bệnh lý hậu môn, trực tràng như rò hậu môn, áp xe cạnh hậu môn, ung thư trực tràng, hậu môn,…

– Đối tượng siêu âm: Thực hiện cho mọi đối tượng, từ trẻ sơ sinh, người trưởng thành đến những người bệnh lớn tuổi. 

– Khám nội viện, ngoại viện, tại giường, chăm sóc đặc biệt,…

Về hình ảnh học thần kinh sọ não:

– Khoa có đầy đủ trang thiết bị chiếu chụp để chẩn đoán bệnh lý thần kinh: Máy CT scan 64-128 lát cắt, máy MRI 1.5T và 3T dùng chẩn đoán các bệnh lý thông thường và chụp nâng cao. 

– Có thể thực hiện được đầy đủ các kỹ thuật cơ bản và nâng cao trong cộng hưởng từ thần kinh nhờ sự hợp tác và phối hợp tốt với bác sĩ lâm sàng nội và ngoại thần kinh.

– Nhóm đột quỵ: Phối hợp với bác sĩ cấp cứu, bác sĩ thần kinh thực hiện cuộc chụp khảo sát nhanh và hiệu quả các bệnh lý đột quỵ thiếu máu não, xuất huyết não,… Kết hợp thêm trang thiết bị hiện đại và đội ngũ chuyên gia thần kinh có thể khảo sát CTA đa thùy, CT tưới máu giúp đánh mạch máu, lõi nhồi máu, vùng tranh tối tranh sáng trong chỉ định can thiệp thích hợp; Máy CHT 1.5 và 3T có thể thực hiện các chuỗi xung khảo sát mạch máu MRA, MRP, khảo sát thành mạch não nhờ chuỗi xung độ phân giải cao thành mạch não HR-MRI. Khoa đã ứng dụng phần mềm RAPID trong chẩn đoán nhanh, lập kế hoạch và điều trị sớm cho những người bệnh đột quỵ.

– Nhóm ngoại thần kinh: Thực hiện các kỹ thuật chuyên sâu như DTI, fMRI trong thiết lập bản đồ và đánh giá chức năng trước mổ, định vị trong mổ và tiên lượng sau cuộc mổ. MRP, MRS trong đánh giá các khối tổn thương não, viêm, u, phân biệt vùng u còn lại hay vùng hoại tử sau phẫu thuật/ xạ trị. DTI đánh giá xâm lấn các bó sợi thần kinh của u não trước phẫu thuật, dòng chảy dịch não tủy (CSF-flow) trong khảo sát lưu lượng, vận tốc dòng chảy dịch não tủy,…

– Nhóm can thiệp nội mạch: Có thể thực hiện chuỗi xung động học thời gian thực (TWIST) đặc biệt trong khảo sát bệnh lý dị dạng mạch máu não.
Nhóm rối loạn vận động: Thực hiện các kỹ thuật như cộng hưởng từ độ phân giải cao khảo sát dấu đuôi én, DTI, MRS, fMRI trong đánh giá chức năng thần kinh, nhận thức,… MRI chẩn đoán bệnh Parkinson với chuỗi xung SWI độ phân giải cao.

 Nhóm sa sút trí tuệ: Protocol chuyên biệt cho nhóm người bệnh, hợp tác nghiên cứu AI, phần mềm đo đạc thể tích hải mã,…

Về hình ảnh học đầu mặt cổ: 

Chẩn đoán các loại bệnh lý chuyên khoa răng hàm mặt, tai mũi họng, mắt, ung bướu,…

Về hình ảnh học lồng ngực: 

Chẩn đoán và sinh thiết các bệnh lý phổi và trung thất. Đặc biệt, khoa là đơn vị đầu tiên thực hiện kỹ thuật chụp cộng hưởng từ các khối u trung thất nhằm nâng cao tính chính xác trong chẩn đoán các khối u trung thất.

Về hình ảnh học tim – mạch máu: 

Sử dụng CT, MRI cùng các phần mềm chuyên dụng, khoa đã thực hiện:

– Các kỹ thuật chụp mạch vành, đánh giá các bệnh lý tim bẩm sinh, bệnh lý cơ tim, bệnh van tim,…  

– Các kỹ thuật chụp mạch máu phức tạp trong chẩn đoán các bệnh lý động mạch phổi, động mạch chủ đáp ứng các nhu cầu lập kế hoạch điều trị phẫu thuật hay can thiệp mạch, theo dõi, đánh giá sau điều trị.

Về hình ảnh học tiêu hóa, gan mật, tiết niệu – sinh dục: 

Đây là một trong những thế mạnh truyền thống của Khoa Chẩn đoán hình ảnh.

Cùng với sự phát triển của ngành Ngoại khoa tiêu hóa, gan mật và ghép tạng của bệnh viện, khoa đã thực hiện các kỹ thuật đặc biệt trong chẩn đoán chính xác các dạng bệnh lý:

– Gan: Đánh giá các loại u gan bằng MRI, CT, chụp MRI với chất tương phản đặc hiệu gan – mật, đánh giá trước và sau ghép gan đối với người cho và người nhận, theo dõi diễn tiến của xơ gan, viêm gan, u gan trước và sau điều trị.

– Hệ mật – tụy: Chẩn đoán tất cả bệnh lý đường mật, túi mật, và tụy như viêm, sỏi, các loại khối u,…

– Đường tiêu hóa: Thực hiện các kỹ thuật đặc biệt đánh giá các bệnh lý đường tiêu hóa như rối loạn nuốt, rối loạn đại tiện, ung thư thực quản, dạ dày, đại tràng, trực tràng, các bệnh lý gây chảy máu đường tiêu hóa; Chụp CT hoặc MRI ruột non để khảo sát các bệnh lý ruột non như khối u, viêm do lao, do bệnh Crohn, viêm ruột hay tắc ruột mạn tính, nội soi đại tràng ảo bằng CT. Đặc biệt, khoa là đơn vị đầu tiên trong nước thực hiện kỹ thuật chụp cộng hưởng từ động để khảo sát các khoang sàn chậu trong những bệnh lý táo bón, rối loạn đại tiện, són tiểu, sa tử cung, sa sàn chậu,…

– Tiết niệu – Sinh dục: Ngoài chẩn đoán các bệnh lý thông thường như sỏi, chấn thương hệ niệu, khoa thực hiện hình ảnh học đánh giá trước và sau ghép thận, đánh giá bệnh lý tuyến tiền liệt bằng MRI động học,…

– Ổ bụng: Đánh giá tình trạng xoang bụng trong các biến chứng sau phẫu thuật, các khối u trong và ngoài phúc mạc.

Về hình ảnh học sản phụ khoa:  

Đây tiếp tục là một trong những thế mạnh đi đầu của Khoa Chẩn đoán hình ảnh trong việc dùng MRI đánh giá bệnh lý tử cung: Dị tật, khối u trong cơ tử cung, khối u ở cổ tử cung, bệnh lý nội mạc tử cung,… Đồng thời đánh giá bệnh lý phần phụ bao gồm khối u, abscess, bệnh lý bánh nhau, dị tật thai nhi,…

Về hình ảnh học cơ xương khớp: 

– Phát hiện sớm, chẩn đoán chính xác, lên kế hoạch trước mổ và theo dõi sau mổ khớp trong những bệnh lý ghép sụn xương, biến chứng sau mổ, gãy khớp nhân tạo,… 

– Phát hiện sớm, chẩn đoán chính xác và theo dõi sau điều trị các bệnh lý nội khớp như viêm cột sống dính khớp, viêm khớp dạng thấp,… giúp người bệnh tránh hoặc hạn chế biến chứng tàn phế. 

– Máy CHT chụp hình có độ tương phản và độ phân giải cao đa mặt phẳng khảo sát các cấu trúc dây chằng – gân cơ – sụn khớp mỏng, tính năng hạn chế ảnh giả của vật liệu ghép phẫu thuật chấn thương chỉnh hình, giảm thời gian chụp và giảm mức độ tăng sinh nhiệt, khảo sát được vùng khớp lớn. 

– Chụp X-quang, X-quang cắt lớp vi tính các khớp cơ thể theo tất cả tư thế cần thiết (thường quy, chịu lực). 

Về can thiệp :

– Thực hiện các can thiệp ngoại mạch như các kỹ thuật chọc hút kim nhỏ FNA, sinh thiết các loại u, hủy u bằng sóng cao tần, hủy u bằng sóng viba, hút u vú lành tính dưới hỗ trợ của chân không, dẫn lưu các ổ áp xe hoặc tụ dịch,…

– Thực hiện các can thiệp nội mạch dưới hướng dẫn của máy chụp mạch máu xóa nền DSA như điều trị ung thư gan, điều trị tắc mạch do xuất huyết tiêu hóa, ho ra máu, điều trị tắc mạch do chấn thương hoặc các bệnh lý bất thường mạch máu, điều trị tắc mạch các u như u thận, u tuyến tiền liệt,…

– Can thiệp điều trị các dị dạng mạch máu phổi, thận, vùng chậu và các bệnh lý ở tử cung như u xơ tử cung, lạc nội mạc trong cơ tử cung, thông động – tĩnh mạch bẩm sinh hay mắc phải trong tử cung,…

– Các kỹ thuật cao như tắc thông nối vị thận PARTO hoặc tạo thông nối cửa chủ trong bệnh lý xơ gan có biến chứng như xuất huyết tiêu hóa hoặc báng bụng kháng trị.

– Phòng khám hình ảnh học can thiệp tư vấn về hình ảnh các bệnh lý trước và sau can thiệp bằng nội và ngoại mạch.

Thế mạnh về đào tạo, nghiên cứu khoa học, quản trị, hợp tác và chuyển giao 

Thế mạnh trong đào tạo – hợp tác:

Khoa Chẩn đoán hình ảnh là cơ sở thực hành cho các bác sĩ chẩn đoán hình ảnh, kỹ thuật viên hình ảnh các cơ sở y tế. Do đó, trong quá trình hoạt động, khoa thường xuyên tổ chức các chương trình đào tạo liên tục (CME), các lớp đào tạo ngắn hạn, thực hiện các chuyển giao kỹ thuật nhằm nâng cao tay nghề cho các đơn vị bạn.

Bên cạnh đó, khoa còn thực hiện đào tạo – hợp tác trong môi trường quốc tế để mở rộng chuyên môn: Hợp tác đào tạo với các Viện – Trường trên thế giới; Cử nhân viên đi học tập ở Mỹ, Anh, Pháp, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan; Nhận học viên từ các Viện – Trường trên thế giới (Phần Lan, Đức, Đài Loan) đến tham quan học tập; Tổ chức các hội thảo, hội nghị, khóa huấn luyện chuyên môn và mời các chuyên gia nước ngoài đến giảng dạy.

Trong lĩnh vực siêu âm, Khoa Chẩn đoán hình ảnh là nơi đào tạo siêu âm căn bản và nâng cao cho các bác sĩ sau đại học lâu năm của miền Nam. Trung bình mỗi năm khoa đào tạo hơn 100 học viên với các trình độ cơ bản, nâng cao và bổ túc sau đại học. Song song đó, khoa tham gia nghiên cứu nhiều đề tài về siêu âm, tổ chức hội thảo và viết sách siêu âm atlas cho học viên, thường xuyên cập nhật kiến thức mới trong lĩnh vực siêu âm trên thế giới.

Trong lĩnh vực can thiệp, khoa nhận đào tạo các lớp can thiệp nội và ngoại mạch cho các bác sĩ sau đại học của các tỉnh thành phía Nam. Đồng thời chuyển giao các kỹ thuật can thiệp nội và ngoại mạch cho các bệnh viện trong khu vực.

Thế mạnh về nghiên cứu khoa học:

– Khoa là nguồn cung cấp dữ liệu thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học cho học viên sau đại học, nội trú, cao học, chuyên khoa 2, tiến sĩ với hơn 100 bài báo công bố trong nước.

– Đồng chủ nhiệm đề tài nhánh 1 đề tài nghiên cứu của Bộ Khoa học Công nghệ

– Chủ nhiệm và tham gia hơn 5 đề tài nghiên cứu khoa học của Sở Khoa học Công nghệ.

– Với đội ngũ bác sĩ giàu kinh nghiệm, say mê nghiên cứu, giỏi ngoại ngữ, trong thời gian gần đây, khoa đã có hơn 10 bài báo quốc tế đăng trên các tạp chí ISI/ Scopus với vai trò tác giả và đồng tác giả trong nhiều lĩnh vực chuyên ngành.

Trang thiết bị tiên tiến phục vụ cho công tác khám chữa bệnh

– Hệ thống PACS của Carestream/Philips với đầy đủ tính năng hiện đại, đã kết nối toàn bộ các hệ thống sinh ảnh của X-quang, siêu âm, CT, MRI nội viện cũng như ngoại viện (các cơ sở hợp tác) để truyền tải, lưu trữ dữ liệu và xử lý hình ảnh, thực hiện không in phim, thanh toán bảo hiểm y tế và kết nối bệnh án điện tử của bệnh viện. Hệ thống này đã giúp cho việc chẩn đoán, hội chẩn từ xa được thuận lợi, dễ dàng. Đây cũng là cơ sở để xây dựng nguồn dữ liệu để nghiên cứu khoa học và phát triển các phần mềm trí tuệ nhân tạo.

– Hệ thống siêu âm gồm gần 30 thiết bị hiện đại thuộc các dòng máy có thương hiệu như GE, Siemens, Samsung, BK. Esaote,… Nhiều phần mềm tiên tiến được trang bị ngoài siêu âm B mode kinh điển như siêu âm Doppler, siêu âm đàn hồi đa điểm, siêu âm nội soi 3D hậu môn trực tràng, siêu âm tuyến tiền liệt Biplane, hệ thống định vị Navigation, siêu âm trong phẫu thuật nội soi,…

Bên cạnh đó, khoa trang bị thêm nhiều đầu dò đa dạng để phục vụ các chuyên khoa. Đi kèm với đó, không thể thiếu các thiết bị hiện đại (thực hiện dưới sự hướng dẫn của thiết bị siêu âm) như thiết bị hủy u bằng sóng cao tần đa kim, thiết bị hủy u bằng vi sóng, thiết bị hút u vú dưới hỗ trợ của chân không,…

Tất cả máy móc, trang thiết bị hiện đại này có mặt ở hơn 25 phòng siêu âm tiên tiến của khoa để mang đến kết quả chính xác với hình ảnh được lưu trữ quản lý trên hệ thống chung và PACS.

– X-quang: 8 hệ thống cao tần, 1 hệ thống soi chụp kỹ thuật số và 4 hệ thống X-quang di động kỹ thuật số, kết nối PACS. 

– Chụp cắt lớp vi tính (CT scanner): Các kỹ thuật thực hiện trên 6 hệ thống bao gồm ở nội viện và hợp tác. Ở nội viện có 2 hệ thống CT 64 và 128 dãy đầu thu (Definition AS và AS plus – Siemens) với các phần mềm chuyên dụng cho tim mạch, thần kinh, tiêu hóa, gan mật,… Về hợp tác, khoa có 1 hệ thống CT 2 đầu bóng 256 dãy đầu thu, 2 mức năng lượng và 3 hệ thống CT 128 dãy đầu thu.

– Chụp cộng hưởng từ (MRI): Các kỹ thuật thực hiện trên 6 hệ thống bao gồm 2 hệ thống 1,5 tesla (Avanto-Siemens) và 3 tesla (Verio-Siemens) ở nội viện; 4 hệ thống 1,5 tesla (Siemens, Philips và GE) trong hợp tác với các đơn vị bên ngoài.